Trang chủTự hào Học viện CSNDTruyền thống Anh hùng

Công tác đào tạo lực lượng Cảnh sát nhân dân tham gia chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ

Trải qua gần 50 năm xây dựng và phát triển, công tác đào tạo lực lượng Cảnh sát nhân dân của Học viện Cảnh sát nhân dân ngày càng trưởng thành. Mỗi chặng đường phát triển của nhà trường đều gắn liền với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của đất nước, gắn liền với sự phát triển và những chiến thắng oanh liệt của lực lượng Công an nhân dân trên mặt trận bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Điểm tô trong bề dầy truyền thống đó, có thể kể tới những năm tháng hào hùng mà thầy và trò Học viện CSND đã cùng chung lòng dốc sức đưa cả tiến trình đào tạo lực lượng CSND gắn liền với cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Huân chương Hồ Chí Minh do Chủ tịch nước trao tặng Học viện CSND

 

Công tác đào tạo của lực lượng CSND tham gia chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã trải qua hai giai đoạn lớn sau đây:

* Công tác đào tạo lực lượng CSND tham gia chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965-1968)

Bị thất bại nặng nề trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, ngày 05/8/1964, với sự kiện “Vịnh Bắc Bộ” đế quốc Mỹ điên cuồng phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. Với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) thì phải chuyển hướng chiến lược sang thời chiến. Nhân dân miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng, vừa sản xuất, vừa chiến đấu với quyết tâm “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Đế quốc Mỹ vừa gây ra chiến tranh phá hoại đánh phá miền Bắc, vừa ồ ạt đưa quân và chư hầu vào trực tiếp xâm lược miền Nam, hòng áp đặt cho được ách thống trị thực dân kiểu mới. Trong bối cảnh lịch sử đó, lực lượng Công an nhân dân cùng với nhân dân cả nước bước vào một thời kỳ chiến đấu mới: vừa làm tròn nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự ở miền Bắc trong tình hình có chiến tranh ác liệt, vừa tăng cường chi viện cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam anh hùng.

 

Để đáp ứng yêu cầu chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong tình hình mới, lãnh đạo Bộ Công an chủ trương xây dựng lực lượng Cảnh sát nhân dân có số lượng đông và chất lượng tốt, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ giữ gìn trật tự xã hội trong thời chiến. Theo tư tưởng chỉ đạo đó, ngày 30/12/1965, lãnh đạo Bộ Công an ra quyết định số 154/CA-QĐ nâng khoa nghiệp vụ II (khoa Nghiệp vụ Cảnh sát) thành lập Phân hiệu CSND trực thuộc trường Công an Trung ương. Quyết định cũng xác định rõ trách nhiệm của Phân hiệu CSND là đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện lý luận nghiệp vụ cho lực lượng CSND thuộc các chuyên ngành: Cảnh sát nhân dân, Cảnh sát giao thông, Cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Cảnh sát huấn luyện chó nghiệp vụ theo chương trình đào tạo Hạ sỹ quan và cùng trường Công an Trung ương tổ chức nghiên cứu lý luận nghiệp vụ CSND. Bộ máy của Phân hiệu bao gồm 4 khoa (khoa Cảnh sát nhân dân, khoa Cảnh sát trại giam, khoa Cảnh sát giao thông, khoa Cảnh sát phòng cháy chữa cháy) và 4 tổ (tổ Huấn luyện chó nghiệp vụ, tổ Giáo vụ - Tổ chức, tổ Quân sự vũ thuật, tổ Hậu cần). Quán triệt đường lối cán bộ của Đảng, yêu cầu công tác xây dựng lực lượng của ngành, Phân hiệu CSND đã xác định rõ mục tiêu đào tạo: đào tạo huấn luyện cán bộ, chiến sỹ CSND có lập trường tư tưởng vững vàng, có trình độ nghiệp vụ chuyên môn chắc, có năng lực công tác và sức khỏe tốt, luôn trung thành với Đảng với sự nghiệp cách mạng XHCN, đoàn kết, cảnh giác, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, nâng cao khả năng vận dụng kiến thức nghiệp vụ vào thực tiễn.

 

Trên cơ sở nắm vững mục tiêu, yêu cầu đào tạo đó, phân hiệu CSND chỉ đạo xúc tiến mạnh mẽ việc xây dựng chương trình đào tạo hạ sỹ quan CSND cho lực lượng CSND như: chương trình đào tạo hạ sỹ quan CSND toàn diện cho hệ lớp 12 tháng, lớp 6 tháng, cho hệ lớp chuyên đề thời gian từ 2-4 tháng, chương trình huấn luyện cho các lớp chính trị của lực lượng CSND khoa Cảnh sát nhân dân. Từ năm 1965-1967, phân hiệu CSND đã nhận nhiệm vụ Bộ giao và kế hoạch đào tạo, mở 20 lớp cho các hệ K và T. Ngoài ra còn tham gia giảng dạy cho 4 lớp của trường sơ cấp Hà Bắc, Hải Phòng, Việt Bắc và trường CAND vũ trang. Phân hiệu CSND đã mở nhiều lớp chuyên đề như: trinh sát chống tham ô, dân cảnh, phòng cháy chữa cháy, chuyên đề bảo đảm an toàn giao thông ở các trọng điểm cầu phà. Để góp phần nâng cao chất lượng chương trình đào tạo và đóng góp vào công tác nghiên cứu khoa học của ngành, kịp thời phục vụ yêu cầu công tác, chiến đấu của các địa phương, phân hiệu đã chỉ đạo tổng kết một số chuyên đề về quy chế khám nghiệm hiện trường, chuyên đề quản lý hộ tịch, hộ khẩu trong tình hình thời chiến, chuyên đề phương châm nguyên tắc phòng cháy chữa cháy, chuyên đề điều kiện lập án. Những chuyên đề tổng kết đó là kết quả bước đầu của sự cố gắng trong công tác nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ giáo viên, góp phần phát triển lý luận, nghiệp vụ cũng như yêu cầu thực tiễn chiến đấu của ngành. Đó cũng là tài liệu học tập, huấn luyện tốt cho các lớp học.

 

Tháng 8-1966, cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ngày càng mở rộng và ác liệt, thực hiện phương châm “lý luận gắn liền với thực tiễn”, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ, phân hiệu CSND đã đưa các khóa đào tạo hạ sĩ quan (K2, K3, K4) với tổng số 120 học viên đi thực tập ở một số địa bàn đang chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt ở Hải Phòng, Nam Định, Hà Tĩnh. Các lớp học của K4, K5 đã lập nhiều thành tích xuất sắc trong công tác phòng cháy chữa cháy, bảo vệ tài sản của cơ quan, của Nhà nước và tính mạng, tài sản của nhân dân khi bị địch ném bom. Đặc biệt, nhiều học viên đã tham gia chiến đấu dũng cảm trên mặt trận giao thông vận tải, bảo đảm an toàn thông suốt mạch máu giao thông ở những trọng điểm ác liệt như Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Quảng Bình… Một số học viên được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang như Trần Đình Lư, Nguyễn Tiến Tuẫn (lớp T3).

Lễ tiễn đưa học viên K10 tăng cường cho tuyến lửa khu IV (Ảnh tư liệu)


Bên cạnh những thành tích đã đạt được, khó khăn lớn nhất của Phân hiệu trong thực hiện nhiệm vụ đào tạo giai đoạn lịch sử này là đội ngũ cán bộ giáo viên thiếu và yếu nhưng phải đảm nhận một khối lượng công tác giảng dạy rất lớn với nhiều loại lớp khác nhau, các lớp học lại sơ tán ở nhiều địa điểm cách xa nhau. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc dạy và học lại quá nghèo nàn, như tài liệu học quá ít, huấn luyện Cảnh sát giao thông thì không đủ xe, thiếu xăng, không có dụng cụ thí nghiệm và phương tiện kỹ thuật cho học viên Kỹ thuật hình sự và phòng cháy chữa cháy.

 

Vì vậy, tháng 4 năm 1966, thực hiện chủ trương của Bộ Công an, trường Công an III đã sáp nhập vào Phân hiệu Cảnh sát nhân dân. Việc sáp nhập đó đã làm cho Phân hiệu CSND được bổ sung, tăng cường cả về đội ngũ cán bộ giáo viên (đội ngũ cán bộ, giáo viên tăng lên 104 người, Bộ còn tăng cường cho Phân hiệu một số cán bộ được đào tạo từ Cộng hòa dân chủ Đức, Liên Xô về trường công tác) và phương tiện cơ sở vật chất theo đó cũng được quan tâm hơn, đồng thời nội dung chương trình đào tạo mở rộng hơn. Mặt khác, tuy là Phân hiệu thuộc trường Công an Trung ương, nhưng do điều kiện chiến tranh nên mọi hoạt động của Phân hiệu hoàn toàn độc lập từ tổ chức đến đào tạo và kinh phí, cơ sở vật chất. Từ những căn cứ đó đặt ra yêu cầu khách quan cần phát triển Phân hiệu CSND thành một trường độc lập.

 

Thời kỳ tiền thân 1962-1968 đã để lại trong lịch sử Học viện CSND nhiều dấu ấn đậm nét. Được sự quan tâm chỉ đạo chặt chẽ của lãnh đạo Bộ, cùng với nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ cán bộ, giáo viên, Phân viện CSND đã nêu cao ý thức tự lực, tự cường, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo trong thời kỳ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ.

 

* Công tác đào tạo lực lượng CSND tham gia chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1968-1973)

 

Năm 1968 cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta trên cả hai miền Nam-Bắc đã giành được những thắng lợi to lớn. Với cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, nhân dân niền Nam đã làm thất bại hoàn toàn chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Cùng với nhân dân miền Nam anh hùng, quân dân miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu đã bắn rơi hơn 3000 máy bay Mỹ, buộc chúng phải từng bước “xuống thang” trong cuộc chiến phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc. Tuy đế quốc Mỹ tuyên bố chỉ ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 18 vào Quảng Bình, nhưng mức độ ác liệt lại tăng cường hơn trước. Các tuyến đường giao thông vận tải quan trọng ở khu IV cũ cũng bị đế quốc Mỹ tập trung đánh phá dữ dội. Vấn đề bảo đảm mạch máu giao thông để chi viện cho miền Nam được đặt ra rất cấp thiết. Công tác giữ gìn trật tự an toàn xã hội ở miền Bắc cũng như yêu cầu chi viện cho miền Nam ngày càng tăng. Do yêu cầu cách mạng cả nước đòi hỏi, công tác đào tạo để xây dựng lực lượng Công an nhân dân nói chung và lực lượng CSND nói riêng càng phải phát triển mạnh mẽ để đáp ứng tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới.

 

Quá trình thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng Hạ sỹ quan CSND, xét thấy Phân hiệu CSND đủ điều kiện để trở thành một trường độc lập, ngày 15/5/1968, Bộ Công an quyết định thành lập Trường Cảnh sát nhân dân và xác định rõ “Trường có trình độ ngang với các trường Trung học chuyên nghiệp”. Với sự ra đời của trường CSND, sự nghiệp đào tạo của trường phát triển sang một giai đoạn mới, giai đoạn đào tạo bậc trung học và từ tiền đề đó, trường CSND sẽ tiếp tục phát triển nhận nhiệm vụ đào tạo lý luận nghiệp vụ CSND ở bậc cao hơn.

 

Khi mới hình thành, hệ thống tổ chức bộ máy của nhà trường gồm 5 khoa (khoa Cảnh sát giao thông, khoa Cảnh sát trại giam, khoa Cảnh sát nhân dân, khoa Cảnh sát phòng cháy chữa cháy, khoa Vũ thuật quân sự), 3 phòng (Phòng Giáo tổ, phòng Chính trị tổ chức cán bộ, phòng Hành chính – hậu cần) và 3 tổ (tổ Giáo dục chính trị, tổ Tư liệu giáo khoa, tổ Nuôi huấn luyện chó nghiệp vụ). Ban đầu trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên là 153 người trong đó có 40 giáo viên với 1789 học viên.

 

Vấn đề quan trọng hàng đầu được nhà trường quan tâm chỉ đạo trong giai đoạn lịch sử này là mục tiêu, yêu cầu đào tạo và chương trình đào tạo lý luận nghiệp vụ bậc trung học. Quán triệt tinh thần của lãnh đạo Bộ xác định trường CSND là một cơ sở đào tạo cán bộ, chiến sỹ CSND vừa có trình độ chính trị vừa có năng lực chuyên môn, trường đã nêu ra 4 yêu cầu đào tạo: củng cố lập trường quan điểm, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ cơ bản tương ứng bậc trung học, nâng cao trình độ lý luận, khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn chiến đấu và công tác của ngành.

 

Từ các yêu cầu trên, công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ được xác định là khâu then chốt có ý nghĩa chiến lược, nhà trường đã tổ chức các lớp bổ túc văn hóa cấp II, III, các lớp nghiệp vụ tại chức để giúp cán bộ giáo viên học tập nâng cao trình độ. Trường cũng đã cử nhiều cán bộ, giáo viên về các Vụ, Cục, các địa phương và các cơ quan, ban, ngành có liên quan để thâm nhập thực tế, học tập trao đổi kinh nghiệm. Trường cũng rất coi trọng việc cử giáo viên đi học các lớp ngắn hạn, dài hạn ở trong và ngoài nước để nâng cao trình độ. Năm 1970, trường đã cử 18 giáo viên, cán bộ đi học tập trung nghiên cứu ở các trường đại học, trường Đảng cao cấp, trong đó có 6 giáo viên được cử đi học ở nước Cộng hòa dân chủ Đức. Đến 1971, trường đã được bổ sung tăng cường 34 giáo viên, trong đó có nhiều giáo viên có trình độ đại học, đưa tổng số giáo viên của trường lên 109 người. Cùng với sự lớn mạnh về số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng cao. Sự trưởng thành của đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định giúp nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo hạ sĩ quan CSND bậc trung học theo chỉ tiêu kế hoạch đào tạo Bộ giao cho. Mặt khác, được sự quan tâm của Bộ Công an, qua thực tiễn vừa công tác vừa nỗ lực tự học, mỗi cán bộ, giáo viên của nhà trường đã tự tích lũy những kinh nghiệm, tri thức góp phần đáp ứng yêu cầu đào tạo của nhà trường.

 

Về công tác tổ chức đào tạo, để phục vụ công tác dạy và học nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo, Bộ Công an quyết định xây dựng lại hệ thống giáo trình tài liệu ngay từ những ngày đầu trường mới thành lập. Riêng năm học 1968, được sự chỉ đạo chặt chẽ của Ban Giám hiệu, sự phối hợp giúp đỡ của các Vụ, Cục nghiệp vụ, với sự nỗ lực cao của đội ngũ giáo viên, nhà trường đã biên soạn được 40 giáo trình giảng dạy cho các lớp thuộc hệ bổ túc cấp I và 30 giáo trình cho hệ đào tạo Hạ sỹ quan CSND bậc trung học. Nội dung giáo trình được cải tiến, sửa đổi bổ sung phù hợp với yêu cầu đào tạo từng hệ học, cấp học, kiến thức phong phú, chặt chẽ sát với thực tiễn và có tính lý luận cao. Bên cạnh việc hoàn thiện giáo trình, công tác xây dựng cơ sở vật chất cũng được coi trọng nhằm phục vụ cho việc dạy-học và sinh hoạt của cán bộ học viên. Bộ Công an đã chú trọng mua sắm trang thiết bị và đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn tự có, do cán bộ và học viên tăng gia sản xuất để tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy học, điều kiện sinh hoạt của cán bộ trong nhà trường không ngừng được cải thiện.

 

Với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, giáo viên và sự giúp đỡ của các Vụ, Cục có liên quan, trường tiến hành xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo cho các hệ lớp khác nhau, đối với mỗi hệ lớp đó lại xây dựng một khối lượng kiến thức các môn học cơ bản tương ứng, phù hợp. Chỉ trong vòng 1 năm, trường đã xây dựng xong 14 chương trình đào tạo cho 2 hệ học Bổ túc cấp I và đào tạo Hạ sĩ quan CSND bậc trung học. Tháng 9 năm 1968, trường tiếp tục đào tạo cho 6 lớp hệ sơ học còn lại đồng thời tiếp tục chiêu sinh 9 lớp hạ sĩ quan và 4 lớp bổ túc sĩ quan với số lượng là 789 học viên. Đến năm 1971, trường đã chiêu sinh mở 18 lớp với tổng số học viên là 1690 người. Đặc biệt, trường đã chiêu sinh mở lớp riêng cho nữ cảnh sát khu vực đào tạo 12 tháng.

 

Năm 1972, do thất bại nặng nề ở miền Nam, đế quốc Mỹ điên cuồng gây chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc. Chúng đã sử dụng máy bay B52 mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vô cùng ác liệt nhằm hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng và nhiều thành phố khác với hy vọng bằng bom đạn sẽ đưa miền Bắc “trở về thời kỳ đồ đá cũ”. Trước tình hình đó, để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn cho công tác và chiến đấu chống cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, Bộ Công an giao nhiệm vụ cho trường CSND đào tạo số lượng học sinh tăng gấp đôi so với năm trước. Trường đã chiêu sinh đào tạo 30 lớp với số lượng sinh viên là 3642 người. Yêu cầu đào tạo lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy ngày càng cao nên khoa Cảnh sát phòng cháy chữa cháy đã được tách ra thành lập phân hiệu II đặt địa điểm tại Từ Liêm – Hà Nội. Vai trò của lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy đã được khẳng định rõ nét trong trận tập kích chiến lược bằng không quân của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, quân và dân miền Bắc đã anh dũng chiến đấu làm nên chiến thắng “ Điện Biên Phủ trên không”. Đặc biệt, đêm ngày 26/12/1972 khi đế quốc Mỹ ném bom B52 vào Hà Nội, xã Nhân Chính (Từ Liêm) bị ném bom dữ dội, học viên Phân hiệu Phòng cháy chữa cháy và lực lượng Cảnh sát khu vực, Cảnh sát phòng cháy chữa cháy trên địa bàn huyện Từ Liêm đã dũng cảm tham gia chữa cháy, cứu được nhiều tài sản và tính mạng của nhân dân, giúp đỡ nhân dân đi sơ tán, báo động nhân dân xuống hầm trú ẩn mỗi khi có máy bay của địch ném bom, bảo vệ tài sản của Nhà nước, các cơ quan, trường học, bệnh viện và tài sản, tính mạng của nhân dân . Trong trận chiến đấu ác liệt đó, đã có nhiều tấm gương hy sinh dũng cảm của các chiến sỹ Cảnh sát nhân dân tô thắm thêm lá cờ truyền thống của trường Cảnh sát nhân dân.

 

Do tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới đòi hỏi, trường CSND vừa có trách nhiệm hoàn thành kế hoạch đào tạo được giao, vừa đưa cán bộ, sinh viên đi tham gia chiến đấu. Tháng 4 năm 1972, trường đã đưa sinh viên khóa K10, K12, K13 đi tăng cường chiến đấu cho các tỉnh ở khu IV và các địa bàn Hà Nội, Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Bình… Không chỉ tham gia chiến đấu trên mặt trận miền Bắc, khi Đảng cần, tiền tuyến gọi, học viên, cán bộ và giáo viên của nhà trường sẵn sàng lên đường chi viện cho tiền tuyến lớn với quyết tâm “Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Tiêu biểu là tháng 8/1972 toàn bộ học viên lớp bổ túc 3 đã tình nguyện vào miền Nam chiến đấu. Bên cạnh việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo do Bộ Công an giao phó, trường CSND còn cung cấp hàng ngàn cán bộ chiến sỹ CSND có trình độ sơ học, trung học, bổ túc sỹ quan cho nhiệm vụ giữ gìn TTATXH ở miền Bắc và chi viện cho chiến trường miền Nam 4620 cán bộ. Trong số đó, có rất nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh và được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như học viên Đỗ Quang Hải, Vũ Hồng Mến, Nguyễn Đức Mẫn... Thực tiễn phục vụ chiến đấu và tham gia chiến đấu của học viên cho thấy trường CSND đã nỗ lực thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn”, góp phần viết lên trang sử vẻ vang của Học viện CSND gắn liền với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước oai hùng của dân tộc.

 

Trong giai đoạn 1968-1973, trường còn chú trọng nhiều tới công tác hợp tác quốc tế trong đào tạo cán bộ và học viên. Tháng 10/1968, trường nhận nhiệm vụ mở lớp đào tạo lái xe cho Cục Cảnh vệ Bộ Nội vụ của Lào với 16 học viên. Đây chính là lớp học đầu tiên khởi điểm cho quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường. Năm 1970, đế quốc Mỹ thực hiện “Đông Dương hóa chiến tranh” mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương. Do yêu cầu của cách mạng Cămpuchia, trường đã mở lớp huấn luyện cảnh sát hỗn hợp của Cămpuchia gồm 25 học viên. Như vậy, ngoài việc thực hiện kế hoạch đào tạo trong nước, trường CSND đã đảm nhận và làm tròn nghĩa vụ quốc tế được Bộ Công an giao cho.

 

Tóm lại, từ năm 1965-1973, Trường Cảnh sát nhân dân đã trải qua 2 giai đoạn đào tạo Hạ sỹ quan Cảnh sát nhân dân có trình độ sơ học và trung học. Quá trình hoạt động giáo dục và đào tạo của nhà trường nổi lên một số vấn đề lớn sau đây:

 

Trong điều kiện cả nước có chiến tranh ác liệt, trường CSND đã đào tạo hàng ngàn cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát nhân dân có trình độ sơ cấp, trung cấp, bổ túc sỹ quan. Đây hính là nguồn nhân lực vô cùng quan trọng làm nên những chiến công oanh liệt trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh vai trò to lớn của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong tổ chức bảo vệ các cơ quan và các đồng chí lãnh đạo của Ðảng, của Nhà nước, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo vệ thông suốt các tuyến đường giao thông huyết mạch để bảo đảm chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến. Các lực lượng Công an nhân dân sát cánh cùng các lực lượng vũ trang chiến đấu kiên cường, hạ hàng trăm máy bay của giặc Mỹ và giải quyết những hậu quả do chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ gây ra.

 

Hệ thống bộ máy tổ chức giáo dục của nhà trường từng bước được xây dựng ngày càng hoàn thiện và ngày càng lớn mạnh đủ sức đảm đương các nhiệm vụ giảng dạy, quản lý và phục vụ của nhà trường trong mọi hoàn cảnh kể cả khi sơ tán, phân tán cũng như lúc tập trung về địa điểm chính ở Suối Hai. Trường đã nhanh chóng xây dựng và hoàn thành các nội quy, quy chế, chương trình các hệ học, hệ thống giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo đáp ứng kịp thời cho việc dạy và học của nhà trường.

 

Ra đời trong khói lửa của cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, trường CSND gặp rất nhiều khó khăn trong việc xây dựng cơ sở vật chất nhưng với sự nỗ lực của mình, trường Cảnh sát nhân dân đã khẳng định được vị thế là một cơ sở đào tạo lý luận nghiệp vụ bậc trung học cho lực lượng Công an nhân dân, có đủ điều kiện cần thiết để vươn lên nhận nhiệm vụ cao hơn: đào tạo Đại học Cảnh sát nhân dân.

 

Lịch sử hình thành, phát triển của Học viện CSND gắn liền với lịch sử vẻ vang của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, là niềm tự hào của mỗi cán bộ, giáo viên, học viên Học viện CSND. Những thành tựu đã đạt được sẽ là hành trang để nhà trường trong thế và lực mới tiếp tục vươn tới những mục tiêu của sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, qua đó tiếp tục góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng trong sạch, chính quy và hiện đại.

Các tin khác

MỚI CẬP NHẬT

XEM NHIỀU NHẤT